Vị thế công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trước sự đầu tư nước ngoài

Trong xu thế hội nhập, các doanh nghiệp FDI đổ bộ vào Việt Nam đầu tư. Ngành công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng, làm đòn bẩy cho các ngành công nghiệp khác. Để phát huy được “đòn bẩy” này, Việt Nam không ngừng triển khai các biện pháp tích cực để đẩy mạnh các lĩnh vực trọng điểm. Các ngành này bao gồm sản xuất linh kiện điện tử, may mặc hay ngành công nghệ cao khác. Vậy, ngành công nghiệp hỗ trợ đang đứng ở đâu trước sự đầu tư nước ngoài? 

1/ Trước sự đầu tư nước ngoài, công nghiệp hỗ trợ có những tín hiệu phát triển rõ rệt

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là yêu cầu bức thiết của bất cứ nền kinh tế nào. Nhờ có CNHT, các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất được chủ động hơn, qua đó giảm được nhập siêu, nâng cao năng suất lao động và gia tăng giá trị hàng hóa.

Sau tròn 30 năm đổi mới, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn bước đầu phát triển CNHT. Chính phủ Việt Nam giao Bộ Công Thương tích cực triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2016-2025. Qua đó, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam được tạo điều kiện áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lượng hiện đại. Ngoài ra các DN còn được hỗ trợ nâng cao chất lượng sản phẩm. Từ đó, từng bước tham gia vào chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu. Thêm nữa, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành sản xuất quan trọng, bao gồm ngành sản xuất linh kiện điện tử. 

Một vài dấu hiệu đáng mừng đầu tiên

Thực tế, Việt Nam đang là điểm đến của các doanh nghiệp lĩnh vực công nghiệp, sản xuất. Ước tính có hơn 10.000 công ty nước ngoài, hoạt động tại Việt Nam. Có thể kể đến các ông lớn  như: Samsung, Intel và LG . Sự đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng được mở rộng chủ yếu đến từ Các DN này.

Tín hiệu đáng mừng này cho thấy, tiềm năng của thị trường Việt Nam đang dần được công nhận, . Theo đó vị thế đất nước trong lĩnh vực sản xuất nói chung và CNHT cũng được nâng lên trong tương lai gần. Hiện nay, theo thống kê số doanh nghiệp đang hoạt động trong công nghiệp hỗ trợ chiếm gần 4,5% tổng số doanh nghiệp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Những doanh nghiệp này tạo việc làm cho hơn 550.000 lao động.

2/ Đầu tư nước ngoài nhiều nhưng nội lực ngành CNHT còn yếu

Số lượng doanh nghiệp tự sản xuất linh kiện còn hạn chế

Tuy có tín hiệu đáng mừng, nhưng ngành CNHT vẫn bị đánh giá là yếu về nội lực. Dù sự đầu tư nước ngoài lớn nhưng số lượng doanh nghiệp CNHT còn quá ít so với nhu cầu thực tế. Trong số khoảng 1.800 DN chỉ có hơn 300 DN trong nước tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải nhập siêu linh kiện, phụ tùng với số lượng lớn. Khả năng tự cung cấp các sản phẩm CNHT còn rất thấp. Ví dụ như ngành dệt may mới đạt được 40 – 45%. Ngành sản xuất linh kiện điện tử, viễn thông đạt 15%. Đặc biệt, ngành điện tử chuyên dụng và công nghệ cao chỉ đạt 5%. Những con số này đặt ra những yêu cầu hết sức khắc nghiệt cho nỗ lực của ngành.

Chính sách hỗ trợ và pháp lý còn nhiều khó khăn

Tuy nhiên, về phương diện định hướng, các chính sách hỗ trợ và các quy định của pháp luật vẫn còn là rào cản đối với các DN sản xuất linh kiện điện tử. Đối với các DN mới, điều họ cần nhất là vốn vay và các chính sách ưu đãi về vốn. Nếu được hỗ trợ tốt về khoản này thì các DN chắc chắn sẽ nhanh chóng đi vào ổn định. Có nhiều thủ tục rườm rà và phức tạp để các DN có thể tiếp cận được nguồn vốn vay. Đây chính là lý do bó hẹp con đường tiếp cận nguồn vốn của các DN.

Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về đất đai, môi trường không có điều khoản đặc thù cho ngành CNHT nói chung và ngành sản xuất linh kiện điện tử nói riêng.

Với thực trạng trên, nhận định nội lực các DN CNHT chưa đủ mạnh là hoàn toàn có cơ sở. Những tiến bộ và những thành tựu khoa học kỹ thuật đã không được tận dụng triệt để. Hạn chế về năng lực quản lý của các DN cũng khiến cản trở năng lực cạnh tranh.

Những nhiệm vụ cần được thực hiện để đạt mục tiêu

Mặc dù, còn nhiều điểm hạn chế trong nội lực ngành. Song, Việt Nam vẫn có nhiều điều kiện để phát triển ngành công nghiệp xương sống.

Muốn làm được như vậy, Việt Nam cần đón bắt được xu thế của các nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư mọi nguồn lực về cơ sở hạ tầng để trở thành công xưởng sản xuất của thế giới. Việc học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc cũng là cách làm tăng nội lực ngành. Mặt khác, tích cực nghiên cứu, áp dụng công nghiệp 4.0 vào thực tế là bước đi chủ chốt. Việc chính phủ hoạch định nguồn vốn để đầu tư phát triển công nghiệp là bước đà lớn.

Đến năm 2020, ngành CNHT đặt mục tiêu đáp ứng được 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng nội địa. Mục tiêu này tiến tới đạt 11% giá trị sản xuất công nghiệp và trải dài ở khoảng 1.000 DN. Không chỉ vậy, đến năm 2030, mục tiêu đáp ứng được 70% nhu cầu sản xuất, tiêu dùng nội địa. Con số này  chiếm khoảng 14% giá trị sản xuất công nghiệp và dự kiến có khoảng 2.000 DN.

Như vậy, không chỉ ngành sản xuất linh kiện điện tử nói riêng mà ngành CNHT nói chung cần phải nỗ lực hơn nữa để có những bước tiến mạnh dạn hơn. Tương lai nền CN Việt Nam đang phụ thuộc rất nhiều vào bước đi của ngành CNHT. Hy vọng bài viết trên hữu ích cho DN của bạn.