Cơ hội và thách thức của nguồn nhân lực Việt Nam đối với các nhà đầu tư

Trong những năm gần đây, Việt Nam là điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư  phải quan tâm đến nhiều vấn đề. Mà một trong những vấn đề quan trọng nhất là vấn đề nguồn nhân lực. Và trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề đó cũng đặt ra cho các nhà đầu tư những thách thức và cơ hội. 

hội đối với nguồn nhân lực Việt Nam 

 Một trong những ưu thế lớn nhất của lao động Việt Nam là có lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động trẻ. Cơ cấu dân số trẻ được coi là “cơ cấu vàng” nên số người lao động trong độ tuổi lao động cũng lớn. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2018, Việt Nam có khoảng 94 triệu lao động. Trong đó, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm khoảng 55,16 triệu người. Tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2018 ước tính là 54 triệu người. Với ưu thế này nếu được khai thác triệt để sẽ là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước.

Đồng thời, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể. Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN. Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD). Con số này tăng 346 USD so với năm 2017. Tính theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm. Mức tăng này cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015.

Song song với đó, chất lượng lao động Việt Nam trong những năm qua cũng đã từng bước được nâng lên. Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Ở nhiều nhà xưởng cơ khí, lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ được khoa học – công nghệ, đảm nhận được các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất. 

Thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam 

Một là, lao động phân bổ không đều giữa các vùng. Các vùng đất rộng có tỷ trọng lao động thấp (vùng trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,8% lực lượng lao động). Trong khi đó, nguồn nhân lực tập trung đa số ở những khu vực thành thị, nơi có nhiều nhà  xưởng, khu công nghiệp. Sự mất cân đối này hạn chế sự phát huy lợi thế về đất đai và tạo việc làm cho người lao động. 

Hai làchất lượng lao động thấp. Lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp, nông thôn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp.

Ở các công xưởng, nhà xưởng cơ khí, những vị trí kỹ thuật cao nhất thường do lao động nước ngoài đảm nhận. Theo số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm gần 85% (thành thị 71%, nông thôn 91%). Đa số doanh nghiệp sử dụng lao động (82%-WB) chưa hài lòng về chất lượng lao động, nhất là kĩ năng làm việc của người lao động .

Ba là, tính kỷ luật của lao động Việt Nam chưa cao. Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, nông nghiệp, mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông. Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc nhóm. Không chỉ vậy người lao động còn không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc.

Bốn là, khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực còn rất hạn chế. Trong môi trường làm việc có yếu tố nước ngoài, ngoại ngữ, hiểu biết văn hoá thế giới luôn là điểm yếu của lao động Việt Nam. Mặt khác, đáng lo ngại là năng suất lao động của Việt Nam có xu hướng tăng chậm hơn so với các nước đang phát triển trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xia.

Như vậy, mặc dù có những bước khởi sắc đáng kể trong việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên Việt Nam cũng cần nỗ lực hơn nữa trong việc cải thiện những thách thức. Được như vậy, những nhà xưởng cơ khí, nhà xưởng công nghiệp sẽ theo đó mà tăng mạnh cả về chất lượng và số lượng.